Tìm kiếm

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Truyền thống hiếu học trong lịch sử dân tộc


Trong quá trình dựng nước và giữ nước, công tác giáo dục (GD) ở Việt Nam (VN) hết sức được coi trọng. Qua mỗi thời kỳ, công tác GD có khác nhau. Tuy vậy, từ thời kỳ Bắc thuộc đến thời kỳ phong kiến, thời kỳ cận đại và thời kỳ dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do để giữ gìn, xây dựng đất nước, truyền thống hiếu học và khuyến học của dân tộc luôn là dòng chảy văn hóa xuyên suốt lịch sử nước ta. Hầu hết các vương triều phong kiến đều rất quan tâm đến GD, luôn chăm lo đến việc học hành, thi cử.

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, công tác giáo dục (GD) ở Việt Nam (VN) hết sức được coi trọng. Qua mỗi thời kỳ, công tác GD có khác nhau. Tuy vậy, từ thời kỳ Bắc thuộc đến thời kỳ phong kiến, thời kỳ cận đại và thời kỳ dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do để giữ gìn, xây dựng đất nước, truyền thống hiếu học và khuyến học của dân tộc luôn là dòng chảy văn hóa xuyên suốt lịch sử nước ta. Hầu hết các vương triều phong kiến đều rất quan tâm đến GD, luôn chăm lo đến việc học hành, thi cử.
Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét: “Con đường tìm người tài giỏi trước hết là khoa học. Phàm muốn thu hút người tài năng tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử”.
Từ khoa thi đầu tiên tổ chức vào đời Vua Lý Nhân Tông năm 1075, đến khoa thi Tiến sĩ cuối cùng của triều đại phong kiến VN tổ chức năm 1919, lịch sử khoa cử VN đã có 844 năm lịch sử với trên 180 khoa thi, có trên 2900 vị đỗ các khoa thi cấp Trung ương (TƯ): khoa Tiến sĩ và chế khoa.
Những triều đại độc lập đầu tiên cyar đất nước: Ngô, Đinh, Tiền, Lê (939 - 1009) vì thời gian tồn tại ngắn ngủi, nội trị, ngoại giao chưa ổn định nên cũng chưa có điều kiện để thực hiện việc GD một cách đầy đủ, toàn diện. Việc học lúc này được thực hiện trong các trường tư, trường do nhà chùa mở, nhưng cũng chưa phát triển mạnh mẽ.
Đến triều Lý (1010 - 1225), Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, ra sức củng cố xây dựng theo nề nếp chính quy. Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tử Phối, vẽ tranh Thập Nhị Hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng Thái Tử đến đây để học.
Các đời vua triều Lý đã lần lượt lập Văn Miếu thờ Thánh Nho (1070), mở khoa thi chọn Nho sĩ (1075), lập Quốc Tử Giám dạy Nho học (1076), đây là 3 sự kiện lớn. Qua đó, có thể thấy được các vua triều Lý đã chú ý đến tổ chức GD để đào tạo nhân tài. Đó là sự khẳng định và như lời tuyên bố với thiên hạ rằng định hướng phát triển GD, khuyến khích tinh thần hiếu học là tư tưởng chính thống, xuyên suốt của dân tộc (DT).
Nhà Trần (1225 - 1400) thay nhà Lý, GD càng được chú ý hơn. Nhà Trần đã tổ chức thi để chọn Cử nhân và Thái học sinh (Tiến sĩ) với những quy định chặt chẽ. Nhưng phải sang đến thời Lê Sơ (1428 - 1527), một giai đoạn cực thịnh của chế độ phong kiến VN, GD mới thật sự đi vào khuôn phép.
Từ năm Thiện Bình thứ 5 (1438) trở đi, cứ 3 năm có 1 khoa thi Hương ở các địa phương để lấy Sinh đồ và Hương cống. Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Những người đã đỗ Hương cống đều được thi Hội để chọn Tiến sĩ. Những vị này thường được dự kỳ điện thí trước vua, nội dung kỳ thi này là làm một bài văn sách bàn về phép dùng người, phép trị dân đời xưa.
Năm 1484, Lê Thánh Tông quy định thứ bậc của các sĩ tử đỗ trong kỳ thi hội là:
- Đệ nhất giáp: Tiến sĩ cập đệ, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
- Đệ nhị giáp (chánh bảng): Tiến sĩ xuất thân.
- Đệ tam giáp (phụ bảng): Đồng Tiến sĩ xuất thân.
Những người đỗ đạt đều được khắc tên vào bia đá dựng ở Văn Miếu, được vua ban áo mũ và làm lễ vinh quy. Nếu 2 triều Lý - Trần tồn tại gần 400 năm chỉ mở 18 khoa thi Hội với 319 người đỗ Tiến sĩ thì trong 38 năm trị vì của Lê Thánh Tông, triều đình đã mở 12 khoa thi Hội, chọn được 514 Tiến sĩ. Lê Thánh Tông khuyến khích mở mang học hành, tạo đội ngũ quan lại mạnh “chọn người cốt lấy học rộng, thực tài… cho nên kẻ sĩ bấy giờ học được rộng rãi mà không cần phải tìm tỉ mỉ, tài năng được đưa ra ứng dụng mà không bỏ rơi. Trong nước không để sót nhân tài; triều đình không dùng lầm người kém”. Thời Lê Sơ là thời kỳ chế độ phong kiến đạt thịnh trị, GD, khoa cử được coi trọng và trở thành khuôn mẫu cho các vương triều sau.
Các vua đầu triều Lê đều quan tâm đặc biệt đến GD và thi cử. Thi hội, nhà vua đích thân ra đề văn sách, các đại thần làm đề điệu (đôn đốc việc tuần phòng, canh gác ngoài trường thi) và giám thị. Có nhiều hoạt động khuyến khích, động viên, khen thưởng người học giỏi, đỗ đạt. Các kỳ thi Hương tổ chức ở nhiều nơi cùng một lúc nên nhà vua xuống chiếu nhắc nhở thể lệ thi cử, quy định những kỷ luật cần thiết và cử quan hàn lâm đi làm khảo quan. Nhờ vậy đã lựa chọn được nhiều người có thực tài làm nòng cốt cho công cuộc xây dựng đất nước.
Nhà Mạc giành ngôi nhà Lê năm 1527. Từ năm 1553, cuộc chiến tranh giành ngôi báu của các thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn xảy ra quyết liệt. Trong điều kiện đó, sự nghiệp GD, trong đó có khuyến học và khoa cử vẫn được quan tâm nhằm tuyển chọn nhân tài cho vương nghiệp. Năm Kỷ Sửu 1529 đời Mạc Thái Tổ đã tổ chức khoa thi Tiến sĩ và quy định 3 năm 1 lần tổ chức 1 kỳ thi, ngay cả nhà Mạc dời lên Cao Bằng, nhà Mạc vẫn tổ chức thi để tuyển chọn hiền tài, thể hiện quyết tâm cao của nhà Mạc trong việc chọn nhân tài và khuyến khích tinh thần hiếu học của nhân dân ta. Nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi Tiến sĩ, chọn được 485 vị Tiến sĩ, trong đó có 11 Trạng nguyên.
Trong các triều Lê Trung Hưng, các chúa Nguyễn, Tây Sơn, xã hội phong kiến có nhiều biến động những việc học hành, khoa cử, khuyến học vẫn được quan tâm. Triều Tây Sơn dù ngắn ngủi về GD - khoa cử vẫn được coi trọng. Đây là vương triều đầu tiên chủ trương mở trường công tới tận thôn làng, những “Sinh đồ mua” trong khoa cử thời suy được sàng lọc, các bậc khoa bảng có tài của triều trước được trọng dụng, đó là: Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Vũ Huy Tấn, Ngô Thì Nhậm…
Dưới triều Nguyễn, dù đây là thời kỳ XH phong kiến suy tàn nhưng các vua đầu triều Nguyễn vẫn cố gắng xây dựng một XH ổn định, vững mạnh nên rất chú ý đến GD để đào tạo nhân tài. Gia Long đã nói: “Học hiệu là nơi chứa nhân tài, trẫm muốn bắt chước người xưa đặt nhà học để nuôi học trò ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi để cho Nhà nước dùng”. Năm 1807, Gia Long tổ chức khoa thi đầu tiên trong 6 trường từ Nghệ An trở ra, đến thời Minh Mệnh thì chế độ GD khoa cử đưa vào nề nếp hơn.
Ngay năm 1820, Minh Mệnh đã cho chỉnh đốn lại Quốc Tử Giám, đặt học quan, định phép thi, lấy sinh viên (SV), cấp học bổng ở định kỳ, còn ở các doanh, châu, huyện, Minh Mệnh cho tổ chức lại các trường học, trẻ con khi lên 7 - 8 tuổi bắt đầu đi học vỡ lòng ở trường làng. Sĩ tử trước khi đi thi phải đến châu, huyện học văn thì cho đến doanh trấn để đốc học dạy. Mỗi năm 2 lần, trường này tổ chức những kỳ thi gọi là khải khóa để chọn học trò đã tương đối thông thạo nghề văn chương cử tử mới được đi thi, những người xuất sắc thì không phải chờ kỳ thi mà được vào thẳng Quốc Tử Giám…
Dưới các triều đại phong kiến, nền GDVD chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo. Trong đó hiếu học là một đặc điểm nổi bật của Nho giáo. Học để làm quan, để làm người chân chính trong xã hội, học để có nghề nghiệp. Hiếu học ngày nay đã trở thành truyền thống của DT ta, đang được kế thừa và trân trọng.
Thời gian trị vì của các triều đại phong kiến VN dài ngắn khác nhau, song đều đã định lệ thi cử, học hành để động viên, tuyển chọn nhân tài, đó là một hình thức khuyến học, khơi dậy, động viên truyền thống hiếu học của DT ta, giúp cho tài năng được phát huy để phục vụ đất nước…
Trong giai đoạn đầu của chế độ thuộc địa (nửa sau thế kỷ XIX), thực dân Pháp để nguyên nền GD Nho học triều Nguyễn. Đến năm 1919, không còn các trường học chữ Hán, bãi bỏ các khoa thi Hương, thi Hội.
Hệ thống GDVN từ đó phỏng theo GD Pháp. Một số xã đông dân được mở trường sơ học gồm 1, 2 lớp đầu tiểu học, ở 1 số thị trấn, thị xã mở trườn tiểu học gồm năm học, 1 số thị xã lớn mở trường Cao đẳng tiểu học (THCS) gồm 4 năm học; chỉ ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn mới có 1 trường Cao trung (PTTH).
Những năm đầu thế kỷ XX, Pháp bắt đầu lập 1 số trường chuyên nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật trung cấp. Năm 1908,1 số trường gộp lại gọi là ĐH Tổng hợp, nhưng thực chất mãi tới năm 1919 mới có Dự bị ĐH đầu tiên về Lý-Hóa-Tự nhiên. Năm 1923 chiêu sinh đào tạo Y khoa, năm 1941 mở ĐH Luật khoa, năm 1942 đào tạo Kỹ sư nông nghiệp, năm 1944 đào tạo Kỹ sư công chính… các trường này tập hợp tại thành ĐH Đông Dương (ĐD), tổng số SV năm 1939 - 1940 là 582 người.
Với sự phát triển GD còn nhiều hạn chế, què quặt như vậy đã đẩy nước ta đến kết quả là năm 1945 hơn 95% nhân dân mù chữ, đặc biệt là nữ và đồng bào dân tộc thiểu số. Chế độ thực dân Pháp đã thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược. Trong điều kiện ấy, do truyền thống hiếu học của dân tộc ta, các hoạt động khuyến học vẫn được phát huy trong các gia đình, dân tộc, làng xóm.
Phát huy truyền thống hiếu học, khuyến học của dân tộc ta, “muốn chấn hưng GD và nâng cao dân trí, thì không có con đường nào khác là học”. Từ đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã viết: “Nghĩ đến lý do chìm mất của nước ta, cớ khốn đốn của dân ta thì có 2 bệnh là: ngu dân và hèn yếu”. Vì vậy, năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội. Năm 1905, Cụ đưa học sinh sang Nhật học. Cụ đã viết bài: “Khuyến quốc dân tư trợ du vấn học”. Năm 1907, số học sinh du học sang Nhật là 100 người, năm 1908 lên tới 200 người. Tất cả học sinh đều sống bằng kinh phí do đồng bào trong nước gửi sang, ngoài ra không có nguồn thu nhập nào khác.
Trong phong trào Duy Tân, 1 loạt trường học ra đời ở miền Trung, miền Bắc như: Trường Dục Thanh, trường Phú Lâm, trường Phước Bình, Đông Kinh nghĩa thục… mở mang dân trí, truyền bá tinh thần yêu nước, tinh thần độc lập trong thanh niên và nhân dân ta. Trong cao trào đấu tranh đòi quyền dân chủ từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh từ Pháp về đã diễn thuyết tại Hội Khuyến học Nam Kỳ ngày 25/1/1923 về lý tưởng của thanh niên và phong trào khuyến học, mở đầu cho trào lưu khuyến học ở Nam Bộ và nước ta.

                                                                    Thông tin CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Số 11-2011
                              

TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
--------------*-------------
                                                                                                       Bạc Liêu 29-10-2012

1- Chữ Hiếu trong đời sống người Việt Nam
 Thời phong kiến, ảnh hưởng tinh hoa của nền giáo dục Nho học người Việt Nam hiểu và ứng dụng Nhân- Nghĩ-Lễ-Trí-Tín trong đời sống, góp phần xây dựng đất nước thịnh vượng. Tiêu biểu là nước Đại Việt thời Lý Trần.
Bên cạnh đó, chữ Hiếu là đức tính đặc biệt, trở thành bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam ta. Chúng ta thường nghe ông bà cha mẹ khuyên nhủ, làm con cháu phải có hiếu với ông bà, cha mẹ. Ngày nay, làm cán bộ phải trung với Đảng hiếu với dân. Chữ hiếu đối với người VN rất thiêng liêng, biểu hiện đạo lý làm người.
Trong học tập, người Việt Nam có khái niệm hiếu học. Vậy hiếu học  là gì ? Chữ hiếu trong học tập có  khác và giống chữ hiếu đối với ông bà cha mẹ?
- Khác : Thái độ của người học đối với sự học. Học phải có phương pháp, phải có đức tính : Kiên trì, khắc phục hòan cảnh khó khăn, sáng tạo, cầu học để cầu tiến, có mục đích học tập đúng đắn, giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ.
- Giống : Xem sự học là trách nhiệm, có tính chất thiêng liêng biểu hiện đạo lý làm người. Từ đó tôn trọng người có tài có đức như  kính trọng ông cha mình. Người Việt Nam lo xây mộ phần cho ông bà, cha mẹ, thì cũng xây lăng cho các bậc hiền tài, tôn vinh là nguyên khí quốc gia. Văn Miếu được xây dựng đời nhà Lê (TK XV), khắc tên những người đỗ TS đã chứng minh cho sự giống nhau này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh của tinh hoa văn hóa VN. Sau khi thành lập nước VNDCCH, ông gởi thông báo đến địa phương trên tòan quốc, yêu cầu giới thiệu cho chính phủ biết hiền tài đang ở địa phương mình, để chính phủ trong dụng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự đóng góp của lực lượng trí thức yêu nước, là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của cách mạng VN. Bác Hồ khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Sau khi giành độc lập, mặc dầu phải tập trung giải quyết nhiều khó khăn bởi giặc ngoại xâm, giặc đói, Bác xem dốt cũng là một thứ giặc nguy hiểm, nên đã chủ trương cho tòan Đảng, tòan dân phải chống ba thứ giặc cùng một lúc.

2- Tấm gương hiếu học trong lịch sử.
            Tìm hiểu lịch sử giáo dục VN, chúng ta dễ dàng nhận biết dân tộc VN mình có truyền thống hiếu học từ lâu đời.
Thời ngàn năm Bắc thuộc, ông cha chúng ta vừa kiên trì chống đô hộ PK phương Bắc, vừa khắc phục khó khăn để tiếp thu tinh hoa VH của nhân dân TQ. Nhờ đó, tuy trong tình bị đô hộ, bị kìm hãm và đồng hóa, nhưng không bị lạc hậu bởi chính sách cai trị bóc lột và ngu dân của các thế lực PK phương Bắc. Nhờ sự hiểu biết, và quyết tâm giành lại chủ quyền, ý thức gìn giữ VH dân tộc, nên  dân tộc ta không bị mất đứt chủ quyền trong thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc.
 Hai Bà Trưng từng gìanh lại chủ quyền, được nhân dân tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh vào năm 40-43. Lí Bi lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa đuổi quân Lương, lập nước Vạn Xuân thơì  tiền Lý (544-602), kéo dài 58 năm. Mai Hắc Đế khởi nghĩa đuổi nhà Đường ra khỏi nước ta, chiếm lại thành Tống Bình (Hà Nội), giành lại chủ quyền. Chiến thắng trận Bạch Đằng năm 938, kết thúc thời Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập chủ quyền của dân tộc ta.
Đến thời nhà Lý, ý thức được giá trị của tri thức, vua Lý Nhân Tông cho xây QTG năm 1076, (được xem là trường đại học đầu tiên) để đào tạo nhân tài cho đất nước. Từ đó về sau nền giáo dục, ngày càng được kiện tòan và phát triển. Tuy nhiên cũng có thời kỳ bị khủng hoàng và suy thóai. Vì sự biến động của đất nước, vì chiến tranh xâm lược và khủng hỏang KT-CT.
Gương hiếu học, để lại nhiều hiền nhân, được thế giới đương thời thán phục. Mạc Đỉnh Chi được xem là lưỡng quốc trạng nguyên, trạng trình Nguyễn Bĩnh Khiêm được TQ thán phục là nhà thông thái ( An Nam lý số hữu trình tuyền), nhà mưu lược Nguyễn Trãi, nhà bác học Lê Quí Đôn…
Truyền thống hiếu học, hình thành đức tính cầu học, cầu tiến. Sẵn sàng tiếp thu cái mới, cái tiến bộ từ bên ngòai. Từ đó hình thành tinh thần “ Tôn sư trọng đạo”, “không thầy đố mày làm nên”, “Muốn sang thì bắc cầu kiều…”…
Khi lịch sử diễn ra cuộc tiếp xúc Đông-Tây, rất tiếc các thế lực PK bào thủ, chủ trương đóng cửa với bên ngoài, cùng với chiến tranh xâm lược làm cho sự học của dân mình bị chựng lại trong một thời gian dài. Chúng ta khâm phục trong hòan cảnh ấy, cũng có nhiều hiền tài xuất hiện, sẵn sàng tiếp thu sự tiến bộ, kêu gọi cải cách đất nước như :
Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh …Đặc biệt Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng và phát triển giáo dục, ngay trong chiến khu, thời kháng Pháp.
Thời thực dân phong kiến,  Nguyễn Mạnh Tường trong 02 năm, đỗ 02 bằng TS bên nước Pháp, tới nay kỷ lục này chưa ai vượt qua. Thời kháng chiến chống Mỹ, kỹ sư Trần Đại Nghĩa cải tiến vũ khí do Liên Xô viện trợ, bắn rơi máy bay B52 của Mỹ, gây ngỡ ngàng thán phục cho hai cường quốc Xô-Mỹ. Mới đây GS Ngô Bảo Châu đạt Huy chương  Fields về Toán học, làm rạng danh  (tương đương giải Nobel) truyền thống hiếu học Việt Nam.

3- Hiếu học  trong thời đại ngày nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc ra đi, Người đã căn dặn mang tính khẳng định rằng : Nước Việt Nam mình có sánh vai được cùng các cường quốc năm châu hay không, là nhờ phần lớn công lao học tập của các em.
Trong công cuộc Đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta xác định GD là quốc sách hàng đầu. Chính phủ ngày càng chú trọng đầu tư phát triển GD. Đề án phát triển GD của VN từ đây tới năm 2020 sẽ đào tạo 20.000 TS có trình độ ngang tầm quốc. Để khắc phục tình trạng chảy máu chất xám, nhân tài ngày càng được trọng dụng. Đó là cơ hội cho người hiếu học và ham học. Phong trào đổi mới PPDH đang tích cực ứng dụng , để nền GD của chúng hội nhập ngang tầm sự phát triển của thế giới.
Thực tế cho thấy, những người có thành tích học tập tốt và xuất sắc, là nhờ phát huy được truyền thống hiếu học. Danh sách HS đỗ thủ khoa vào đại học năm 2012, chủ yếu là những HS có hòan cảnh khó khăn, nhưng biết vuợt khó, có ý chí tự học, có phương pháp học tập đung đắn, chọn nghề phù hợp với năng khiếu và khả năng hòan cảnh của mình.
- Lê Thanh Hòang ở Quảng Nam, từ THCS vừa chăn bò vừa học, đỗ 2 trường đại học. ĐHBK tp HCM  27đ, ĐH YD tp HCM  29đ.
- Đinh Văn Đệ ở vùng cao tỉnh Quảng Ngãi mồ côi cha lúc 9 tuổi, mồ côi mẹ lúc 13 tuổi, 16 tuổi nuôi đứa cháu 3 tuổi do người chị bỏ chồng và bỏ nhà ra đi . Vừa học, vừa làm thuê, đỗ thủ khoa SP Ngữ văn ĐH Phạm Văn Đồng.
- Nguyễn Thị Tuyết ở vùng cao Thanh Hóa, sống nghèo, mẹ góa con côi đỗ thủ khoa ĐH công đòan.
Trường chuyên của mình, cũng có nhiều học sinh đỗ đạt. Đỗ thủ khoa ĐH YD tp HCM, ngày càng có nhiều người đi du học lấy bằng TS nước ngòai. Trong lực lượng GV, nhờ sự giúp đỡ và động viên của BGH,  thầy cô đã dành thời gian nghiên cứu kết hợp với giảng dạy, khắc phục khó khăn, theo học chương trình sau ĐH để đáp ứng yêu cầu học tập của HS mình ngày càng nhiều.
Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học công nghệ, tri thức càng đóng vai trò quyết định về đời sống đặc biệt về chất lượng sống của con người. Chúng ta học ở trường, ở nhà, ở ngòai xã hội…Học chữ kết hợp với học làm người, lập nghiệp kết hợp với lập thân.
Chúng ta đang sống và làm việc trong hòan cảnh có nhiều thuận lợi hơn thế hệ trước. Nền giáo dục đang được quan tâm từ nhiều phía. Nhưng bên cạnh đó, cũng còn nhiều thử thách. Xã hội đang cần BS giỏi để tri bệnh cứu người. Cần kiến trúc sư, kỹ sư giỏi để xây dựng cho đất nước những công trình hiện đại, đạt chất lượng và thẩm mỹ, dân mình có chỗ ở khang trang. Cần các nhà quản lý giỏi, để nền kinh tế đất nước được vận hành theo chiều hướng tiến bộ và hiệu quả cùng nền kinh tế thế giới. Cần GV giỏi để đào tạo nguồn nhân lực cao cho đất nước. Nếu là người hiếu học, chính các em  là những người ấy.
Học tập có kết quả tốt, trở thành công dân hữu ích là sự đáp đền công cha nghĩa mẹ, công lao dạy dỗ của thầy cô, sự tài trợ của các mạnh thường quân. GS Sử học người Pháp, Odon Vallet rất khâm phục truyền thống hiếu học của người VN. Hàng năm ông tài trợ cho HS-SV hiếu học hàng chục tỉ đồng ( năm 2012 là 18 tỉ đồng).
Tóm lại, từ thời lập quốc, vua Hùng và dân mình xây dựng kinh đô nước Văn Lang ở Phú Thọ, thành Cổ Loa thuộc Hà Nội ngày nay một công trình kiến trúc độc đáo thời cổ, đã chứng minh cho trí tuệ Việt Nam.
Trên nền tảng của triết lý : “Duy tuệ thị nghiệp”, các dân tộc phương Đông thời xưa có được nhiều thành tựu văn minh rực rỡ. Với triết lý “Tôi tư duy tôi tồn tại”, người phương Tây vươn lên nhanh chóng. Nhờ óc sáng tạo, họ có nhiều phát minh khoa học kỹ thuật trở thành các cường quốc trên thế giới.
Được học tập ở trường THPT chuyên, các bạn đã chứng minh được tinh thần hiếu học của mình với mọi người. Cần chú ý, “sự học như con thuyền ngược nước không tiến ắt lùi”. Sự học như một quá trình phải leo dốc để tới đỉnh vinh quang, không nên dừng lại, hay tụt dốc.
Giữ được tinh thần hiếu học, là chúng ta thể hiện chữ hiếu với cha mẹ, giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam, đó cũng là đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam mình. Là sự góp phần làm rạng danh truyền thống hiếu học của dân tộc và nhà trường.
Các em nào còn chểnh mảng trong học tập, hãy cố lên cho tương lai tươi sáng. Nếu sự học của chúng ta không có hiệu quả, thì dòng đời của cha mẹ mình là những nước mắt chảy buồn bã thâu đêm. Người xưa nói : “Con hơn cha là nhà có phúc, trò hơn thầy đất nước tiến nhanh”.
                                                                               
                                                                                                   Huỳnh Quang Lâm

TRUYỀN THỐNG HIỂU HỌC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Truyền thống hiếu học của dân tộc ta đã được hình thành từ lâu đời do “các bậc thánh đế minh vương không ai không coi trọng việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí quốc gia coi đó là công việc cần kíp”. Truyền thông hiếu học cũng đã được bồi đắp củng cố trong nhân dân bằng các điều khoản trong ''lệ làng'' phép nước'' thể hiện trong các chính sách sử dụng và đãi ngộ của các triều đại đối với các nhà khoa bảng. ''Lệ làng'' thể hiện trong việc khuyến khích, giúp đỡ người theo học thành tài và đề cao họ trong làng xóm. Lệ làng và phép nước bố sung cho nhau, cùng khuyến khích việc học tập làm cho truyền thống hiếu học càng tô đậm.

Hương ước các làng trước đây thường truyền miệng sau đó được ghi bằng chữ Nôm và đến đầu thế kỷ XX được ghi bằng chữ Quốc ngữ. Các hương ước đều đã được sửa chữa bổ sung nhiều lần theo sự phát triển của xã hội phần lớn những hương ước còn tồn tại đến ngày nay là của những năm 20 của thế kỷ XX khi thực dân Pháp đề ra việc cải lương hương chính trong nông thôn, được gọi là hương ước,khoán ước, hương khoán, hương biến, hương lệ, khoán lệ hay tục lệ... Thông thường trong các hương ước có nhiều điều khoản về mực hình, mục hộ, mục chính trị tổ chức làng xóm, mực phong tục tập quán... Bên cạnh phần tiêu cực hạn chế phản ánh quan hệ giai cấp trong xã hội, duy trì ách áp bức thống trị của địa chủ cường hào và tính bảo thủ trì trệ lạc hậu của nông thôn thời trung cổ, các hương ước cũng có những mặt tích cực như bảo vệ an ninh làng xã bảo vệ và phát triển sản xuất, bảo vệ thuần phong mỹ tục và phát triển văn hoá giáo dục...

Hương ước xã Tử Vi huyện Tiên Dung (nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh) năm 1915 có 55 điều thì có 21 điều liên quan đến học tập, quy định các việc dựng trường mở lớp, đặt học điền, trách nhiệm của gia đình và thầy giáo, việc khen thưởng các học sinh học giỏi, thi đỗ. Hương ước làng Dã Lê Thượng xã Thuỷ Phương, huyện Hương Thuỷ (Thừa Thiên Huế) soạn năm Duy Tân thứ 6 (19/1) gồm 24 điều có những điều quy định đặt lễ mừng, tiền thưởng và ruộng đất xứng đáng cho những người đỗ đạt mang vinh dự về cho làng. ''Con trai, từ 7, 8 tuổi trở lên.. lấy trung, hiếu làm đầu'', đó là mục đích khuyến học.

Hương ước làng Phúc Xá (tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội) soạnnăm 1923, điều thứ 5 ghi mục học chính:

“Nhà nào có con từ 6,7 tuổi trở lên, bất cứ hạng nào cũng phải cho con ra trường học. Những nhà túng quá, cho con đi học mà không thể lấy tiền đâu được, thời tường (trình) với tộc biểu họ mình để làm giấy nhận thực trình Hội đồng, toà Hội đồng xét thực thì sẽ cấp giấy bút cho 3 năm. Học trò nào học hết 3 năm rồi phải thi, xem hễ có tư cách thông minh có thể ra trường tỉnh học được, thì bố mẹ em ấy phải cho đi học, không được bắt con bỏ học mà làm việc khác. Nếu nhà nào nghèo khổ, không thể cho con đi học ở tỉnh được, sau xét thực ra thì dân sẽ cấp tiền cho trẻ ấy ra tỉnh học.

Người nào đã được tiền cấp mà không siêng năng học hành để có nốt xấu thì dân không tư cấp nữa mà lại phải bồi số tiền ấy trả dân. Nếu không trả dân thì dân sẽ ghi tên học trò ấy vào sổ, trước khi muốn mua ngôi thứ gì trong dân thì phải chồng số tiền ấy trả dân đã”.

Hương ước làng Nhật Tân (huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông nay thuộc quận Tây Hồ - Hà Nội) soạn năm 1921 (thông qua tri huyện Hoàn Long, tổng đốc Hà Đông là Hoàng Trọng Phu) điều 102 quy định: ''Dạy trẻ con có học thức phổ thông là nghĩa vụ người làm phụ huynh, không ai được từ, làng mở một trường ấu học để dạy trẻ con trong làng''. Điều 103: ''Thường năm, đân trích tiền công chi tiêu việc trường và trả lương thầy giáo''. Điều 105: ''Làng lấy tiền công mua bút giấy cấp cho những con nhà nghèo mà hội đồng xét không thể mua được''.

Nhiều hương ước cũng quy định việc miễn giảm sưu sai, tạp dịch cho những người đi học. Hương ước các làng Mộ Trạch (huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương) làng Ba Khê (tổng Đa Ngưu huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên) làng Dương Phố (Thanh Chương, Nghệ An), làng Bàng Liệt (huyện Thanh Trì, Hà Đông cũ)... đều quy định miễn sưu sai, tạp dịch... cho những người hiếu học đã được khảo hạch ở làng.

Khoán ước làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) quy định cụ thể ở khoản 5: ''Khi làng khảo hạch, nếu ai làm bài đạt hạng ưu thì được trừ công dịch một năm, hạng bình được trừ nửa năm, hạng thứ trừ ba tháng. Còn những người chưa đến tuổi việc quan mà đậu thì làng tuỳ theo hạng mà thưởng giấy bút cho...''

Trong Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng nói đến truyền thống hiếu học của làng xã: ''Các làng mộ văn học, cứ mỗi năm, hội hết học trò trong làng, khảo một kỳ gọi là khảo tiến ích. Dân làng bầu cử một vài ông khoa mục xét xem ai học giỏi, ai học kém, hễ ai giỏi thì dân có thưởng. Lại có nơi tuần phu đi tuần trong làng, hễ ai có con đi học mà không nghe làng học đêm thì dân làng bắt phạt. Các cách ấy đều có ý cổ vũ cho người ta phải chăm học hành''.

Nhằm đề cao những người đỗ đạt, làng xã cũng đặt họ ở ngôi hạng cao nhất trong làng. Hướng ước làng Nhật Tân trong mục Thứ vị trong làng, điều 135 quy định: ''Làng làng, ai đỗ Cử nhân, Tiến sĩ, làng tôn chiếu thứ nhất, ngồi trên chức sắc.Đồng thời với việc đề cao thứ vị, hương ước cũng quy định người đỗ đạt phải khao vọng. Điều 80 hương ước làng Nhật Tân quy định: ''Người nào đỗ Cử nhân, Tiến sĩ thời dân tôn lên bậc thứ nhất, không lấy tiền khao. Còn người nào đỗ Cao đẳng văn bằng, Tú tài hay là có bằng Thông ngôn và Thành chung muốn vọng vào chiếu chức sắc thời phải nộp cho làng lo đồng để xung công quỹ. Ai đỗ được Sơ học tất nghiệp thời nộp cho làng 6 đồng...''Điều lệ làng Phúc Xá cũng quy định: ''Những người thi đỗ văn bằng Sơ học (certifcat prlmaire), trung học (diplôme eomplémentaire ét brevet élémentaire) được phép trình dân, nộp vào công quỹ 5 đồng và được trừ tuần tráng.Hương ước làng Câu Hoan (xã Hảo Thiện huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị) cho biết làng đặt 6 mẫu ruộng học để dùng vào việc rước thầy dạy cho lứa tuổi học trò trong vòng 3 năm đầu để cho có trình độ khoá sinh''. Học trò nghèo chăm học đi thi được làng cấp lộ phí tiền và gạo.

Tinh thần cộng đồng tư tưởng ''làng ta'' cũng được thể hiện rất rõ trong những quy định đón rước “vinh quy bái tổ” trong nhiều hương ước.

Ngày nay, khi chúng ta nhận định''giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai'' (Đỗ Mười), Luật phổ cập giáo dục tiểu học đã được Quốc hội thông qua ngày 12-8-1991 khẳng định giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí, ''luật nước'' đã quy định rõ việc khuyến học bắt buộc đến một trình độ nhất định, còn ''lệ làng'' cũng cần phải theo kịp, thúc đẩy truyền thống hiếu học, hỗ trợ cho luật nước. Các tổ chức quỹ hỗ trợ học đường, quỹ khen thưởng, quỹ trợ cấp học sinh nghèo vượt khó, hỗ trợ tài năng trẻ... đã được thành lập để góp phần vào việc ''trồng người'' nhưng cũng chưa được là bao. Ở miền xuôi, nhiều trẻ em phải bỏ học ra thành phố làm các việc vặt làng nền kinh thế thị trường, ở miền núi, các trường dân tộc nội trú cũng chưa đáp ứng được việc phổ cập giáo dục tiểu học cho toàn quốc trước năm 2000. Đối với các sinh viên đại học tập trung ở các trung tâm văn hoá giáo dục, con em nông dân và các tỉnh xa gặp rất nhiều khó khăn cũng chưa được làng xã và các tổ chức xã hội, đoàn thể quan tâm giúp đỡ vượt khó đúng mức nên nhiều tài năng chưa có điều kiện phát triển. Mong sao phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc trong các hương ước thuở xưa, nhân dân ta sẽ có nhiều biện pháp thiết thực giúp đỡ cho việc học tập của các học sinh giỏi để có nhiều nhân tài góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta được nhanh chóng trong công cuộc hội nhập vào khu vực và thế giới.
         ( Nguồn: http://haivanchan.violet.vn/entry/show/entry_id/4918714 )

Tác động của toàn cầu hoá đến truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam

Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan của lịch sử, được thúc đẩy bởi những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội nhất định và đang phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay. Toàn cầu hoá mang trong lòng nó những đặc trưng thể hiện tính hai mặt rõ rệt, vừa tích cực lại vừa tiêu cực; vừa chứa đựng những cơ hội lại vừa có những thách thức, nguy cơ tiềm ẩn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với tất cả các quốc gia. Một trong số những nguy cơ mà toàn cầu hoá đưa đến là nguy cơ đánh mất bản sắc văn hoá, làm biến đổi các giá trị truyền thống của mỗi dân tộc theo hướng chịu sự ảnh hưởng của các nước lớn, các nước tư bản phát triển.

Truyền thống hiếu học là một trong những giá trị truyền thống quý báu được hình thành và hun đúc từ dòng chảy lịch sử ngàn đời của dân tộc ta. Nó bao chứa những biểu hiện tích cực và cả một số mặt trái với nét đẹp của văn hoá truyền thống dân tộc. Tham gia vào toàn cầu hoá, Việt Nam đã đón nhận rất nhiều cơ hội quý giá. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đối mặt với nguy cơ xói mòn các giá trị truyền thống nói chung và truyền thống hiếu học của dân tộc nói riêng. Chính vì thế, vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải phát huy các cơ hội, vượt qua các thách thức của toàn cầu hoá để hiếu học mãi là một giá trị truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam.

Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Luận văn đã đề cập đến một vấn đề có tính thời sự cấp bách trong giai đoạn hiện nay, hệ thống lại và đưa đến một sự nhận thức khái quát về quá trình toàn cầu hoá. Những phân tích của luận văn về các cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá đối với truyền thống hiếu học của dân tộc, cùng với những giải pháp để phát huy truyền thống ấy trong giai đoạn hiện nay sẽ góp phần gìn giữ, bổ khuyết và phát huy một truyền thống quý báu đã tạo nên sức mạnh cho dân tộc ta từ hàng nghìn đời nay và cả trong tương lai.

Những hướng nghiên cứu tiếp theo: Toàn cầu hoá đã, đang và sẽ còn là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu trên mọi bình diện, đặc biệt là với một đất nước đang trên con đường hội nhập để phát triển như Việt Nam. Sự tác động của toàn cầu hoá đến truyền thống hiếu học của dân tộc cần được nghiên cứu theo hướng chuyên sâu và mở rộng hơn để hướng đến xây dựng xã hội ta trở thành một xã hội học tập, có một nền kinh tế tri thức phát triển theo xu hướng chung của thời đại hiện nay.

Vì sao phải bảo vệ hòa bình ??!!

Vì bảo vệ hòa bình sẽ ngăn ngừa được chiến tranh; thiết lập quan hệ hiểu biết, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc và quốc gia trên thế giới, đem lại cuộc sống bình yên cho mọi người nói riêng và cả thế giới nói chung.

Tại sao phải kế thừa và phát huy Truyền Thống tốt đẹp của dân tộc ta



Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN hiện

nay, vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc được đặt ra như một tất yếu

khách quan và mang tính cấp thiết. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội

nhập quốc tế của thời đại toàn cầu hóa đòi hỏi Việt Nam phải “đi tắt, đón đầu” trên cơ sở phát

huy tối đa nội lực. Một trong những cơ sở làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc là kế thừa và

phát huy các giá trị truyền thống. Tất nhiên, để kế thừa và phát huy một cách có hiệu quả các

giá trị truyền thống không thể không dựa trên những quan điểm phương pháp luận khoa học.


Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh

tình thế và cục diện phát triển toàn cầu rất mới. Đáng chú ý nhất trong cục diện phát triển

hiện nay là sự trỗi dậy nhanh chóng và hầu như đồng loạt của các nền kinh tế đang phát

triển, nhưng có quy mô khổng lồ. Đây là những tác nhân chính đang làm thay đổi tương

quan sức mạnh kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam chúng ta, do sự gần kề về địa lý

và sự tương đồng về trình độ phát triển, đang chịu sự tác động rất lớn của áp lực cạnh

tranh từ các tác nhân này. Tình hình đòi hỏi chúng ta, một mặt, phải chú trọng tính toán

kỹ lưỡng những vấn đề có tính chiến lược và đối sách trong việc xác định mô hình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới, mặt khác, phải ra sức phát huy tối đa nội lực

trong đó quan trọng nhất là nội lực con người. Dù tiếp cận công nghiệp hóa, hiện đại hóa

dưới góc độ nào thì vấn đề đặt ra là không thể không gắn nó với việc kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc. Hơn nữa, sự phát triển của một xã hội, không bao giờ chỉ dừng lại ở

sự tăng trưởng về kinh tế, mà phải diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế,

chính trị, xã hội và văn hóa. Nó phải được thể hiện ở toàn xã hội cũng như trong từng cá

nhân. Và như vậy, xét trên phương diện phát triển toàn diện xã hội, thì vấn đề kế thừa và

phát huy truyền thống dân tộc càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Sự cần thiết khách quan của việc kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc
Sự phát triển của xã hội, bao giờ cũng do nhiều nguyên nhân thúc đẩy. Trong

lịch sử phát triển của nhân loại đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về những

nguyên nhân này. Câu trả lời về vấn đề này của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự khẳng định

vai trò quyết định của nhân tố kinh tế đối với sự phát triển chung của toàn xã hội. Vì

vậy, phương thức sản xuất của một xã hội chính là cơ sở vật chất cho sự phát triển mọi

mặt của xã hội. Đó là xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết lý phát

triển theo quan điểm Mác-xít. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời, cũng phê

phán nghiêm khắc đối với những quan điểm ấu trĩ về kinh tế, coi kinh tế là nguyên nhân

duy nhất của phát triển và từ đó coi thường những nguyên nhân khác – những nguyên

nhân phi kinh tế trong quá trình phát triển của xã hội. Bởi theo quan điểm của chủ nghĩa

Mác – Lênin, xét đến cùng, kinh tế đúng là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội,

nhưng ngoài kinh tế ra còn có biết bao nhân tố khác có vai trò hết sức quan trọng có thể

thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội mà nổi bật trong đó là các yếu tố chính

trị, ý thức, tư tưởng.

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, rõ ràng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định

hướng xã hội chủ nghĩa đang là mục tiêu thu hút sự chú ý của toàn Đảng, toàn dân ta và

là một nhiệm vụ lịch sử trọng đại của cả dân tộc trong những thập niên đầu của thế kỷ

XXI. Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cần phải có nhiều yếu tố:

tài nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ mới... , nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là con

người. Con người là nhân tố hàng đầu, nằm ở trung tâm của sự phát triển. Bởi xét đến

cùng, các nguồn lực về vốn, khoa học, công nghệ... tuy rất quan trọng, nhưng nếu không

có những con người có đầy đủ tri thức văn hóa và đạo đức đúng đắn thì cũng không thể

phát huy tác dụng một cách có hiệu quả. Muốn phát huy tối đa nguồn lực con người

phục vụ cho sự phát triển, nhất thiết chúng ta phải làm sống dậy và phát huy sức mạnh

của văn hóa truyền thống - yếu tố đã từng làm nên cội nguồn của sức mạnh dân tộc,

giúp dân tộc ta vượt qua bao thăng trầm của lịch sử. Các văn kiện của Đảng thời kỳ đổi

mới đã nhiều lần khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ

bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, “Cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực

khác nhau, trong đó có nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định”(1).

Muốn đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới, con người Việt Nam hiện nay

trước hết cần đến các tri thức và năng lực mới. Đó là tinh thần năng động, sáng tạo dựa

trên bản chất khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;

là những thành tựu mới của khoa học, công nghệ hiện đại, là lòng yêu nước thiết tha của

thời kỳ mới xây dựng đất nước; là ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ phát triển của dân tộc... Rõ ràng là, không có các tri thức và năng lực đã nêu trên thì

không thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo

định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng các yếu tố trên đều liên quan đến truyền thống,

đều có sự tác động qua lại với truyền thống, bởi con người dù hiện đại, cũng đều từ

truyền thống đi lên, bản thân họ có nhiều sợi dây hữu hình và vô hình ràng buộc với

truyền thống. Như vậy, trong xã hội hiện nay, cả hiện đại và truyền thống đều tạo nên

động lực, trong đó tư liệu hiện đại là điều kiện cơ bản quy định nội dung và tính chất

của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn tư liệu truyền thống là một trong

những cơ sở quy định bước đi và tốc độ của chính quá trình đó. Chúng ta có thể tiến

nhanh hoặc chậm, thuận lợi hoặc trắc trở, một phần không nhỏ là tùy thuộc vào sự kết

hợp giữa truyền thống và hiện đại để tạo nên hợp lực cho sự phát triển đất nước. Bởi

vậy, có nhà nghiên cứu đặt vấn đề “đến hiện đại từ truyền thống”(2) là hoàn toàn có cơ

sở và đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm. Bởi hiện đại nào cũng có trong nó những

giá trị ưu tú, đặc sắc của truyền thống được kết tinh thành các giá trị văn hóa và được

thử thách qua thời gian.

Lịch sử là có tính liên tục, giai đoạn sau đón nhận những tư liệu (vật chất và

tinh thần) do giai đoạn trước tạo ra, cải tạo chúng và phát triển lên. Kinh nghiệm của

các nước Á Đông đã thực hiện thành công nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cho

thấy việc phát huy truyền thống tích cực của quá khứ, nhất là truyền thống văn hóa

trong xã hội hiện đại không chỉ là một khả năng, một thực tế mà còn là một nhân tố

quan trọng làm nên kỳ tích phát triển được cả thế giới ngưỡng mộ. Truyền thống tác

động nhiều đến hiện đại, đương nhiên là cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Nó có thể kìm

hãm, níu áo, cũng có thể phát huy, thúc đẩy sự phát triển của hiện tại. Điều cần chú ý là,

sự tác động tiêu cực của những thói quen xấu, những hủ tục lạc hậu thường là tự phát và

chi phối hành vi con người một cách vô thức; còn sự tác động tích cực của truyền thống

chỉ thực sự có ý nghĩa to lớn khi nó được thẩm định và phát huy một cách chủ động và

tự giác. Truyền thống cũng là một động lực, nhưng không phải là tồn tại song song với

các động lực do yếu tố hiện đại đưa lại. Vấn đề là tư liệu truyền thống phải hòa nhập với

tư liệu hiện đại để cùng với tư liệu hiện đại đến với con người và làm cơ sở tạo nên con

người vừa truyền thống vừa hiện đại. Hai mặt này phải thống nhất biện chứng với nhau

trên cơ sở đáp ứng nhu cầu phát triển của hiện đại.

Đi vào đổi mới để phát triển, để chấn hưng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI,

để mở cửa và hội nhập quốc tế, nhất định chúng ta phải quảng bá những di sản văn hóa,

những tinh hoa tư tưởng Việt Nam trong giao lưu, tiếp xúc và đối thoại với các nền văn

hóa của các dân tộc trên thế giới. Điều đó không chỉ có ý nghĩa thuần túy về văn hóa mà không đổi màu” thì ngoài việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình

phát triển, chúng ta phải “làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình,

từng người, hoàn thiện giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền

thống của dân tộc và tiếp thu văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa

đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội

và sinh hoạt của nhân dân”(3).

Một số quan điểm có tính phương pháp luận trong việc kế thừa phát huy truyền

thống.


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chắc

chắn, không thể theo quy luật giống như các nước phát triển theo chủ nghĩa tư bản.

Chúng ta phải tìm ra cách phát triển theo triết lý phát triển phù hợp với con đường tiến

lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa có tiền lệ trong lịch sử ở

nước ta. Một triết lý phát triển đảm bảo thành công ở nước ta không thể không dựa trên

cơ sở phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa

nhân loại, nhất là những thành tựu của văn minh đương đại. Triết lý phát triển chỉ có thể

có được trong quá trình kế thừa, đồng thời làm bộc lộ những biến đổi về chất, làm cho

cái mới nảy sinh từ cái cũ. Rõ ràng, phát triển tất yếu phải có kế thừa và kế thừa là cơ sở

không thể thiếu được của sự phát triển bền vững. Vấn đề còn lại là ở chỗ kế thừa như

thế nào để có phát triển bền vững? Kinh nghiệm của nhiều nước, nhất là những nước có

hoàn cảnh gần giống nước ta, đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước ta có thể

gợi mở nhiều vấn đề rất đáng được coi trọng. Ở các nước Đông Á đã công nghiệp hóa,

hiện đại hóa thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo… hay đang tiến hành công

nghiệp hóa, hiện đại hóa như Malaixia, Trung Quốc… chúng ta đều thấy nước nào cũng

đề ra một triết lý phát triển xuất phát từ thực tế và đặc điểm văn hóa xã hội của đất nước

mình. Tuy cách diễn đạt mỗi nước có khác nhau, nhưng nói chung, bài học kinh nghiệm

rút ra từ các nước nói trên là đều nhấn mạnh ý thức hướng về quốc gia dân tộc, đề cao

tính cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc. Có thể coi Nhật Bản là một điển hình thành

công của việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa. Từ kinh nghiệm của chính mình, người Nhật Bản đã đi đến khẳng

định: “Không một nước nào có thể tiến triển được mà lại xem thường quá khứ của

mình. Quá khứ áp đặt tiến trình phát triển tiếp theo của một đất nước… Các chính sách

kinh tế thiếu sự nhìn nhận lịch sử chẳng khác gì những trò cực kỳ phiêu lưu. Một chính

sách tỏ ra là thành công đối với Nhật Bản lại có thể bộc lộ là vô dụng ở Anh, và ngược

lại, bởi vì giữa các nước có những sự khác biệt về tính cách, lối ứng xử của nhân dân và

mọi đặc tính văn hóa khác do quá khứ để lại”(4).

Quá khứ và cả hiện tại của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa trải

qua giai đoạn phát triển theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Như vậy, chúng ta

đi vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đương nhiên mang những sự khác biệt

về tính cách lối ứng xử của nhân dân và mọi đặc tính văn hóa khác do quá khứ để lại.

Chúng ta không thể bắt chước bất cứ một mô hình phát triển có sẵn nào đó, cho dù mô hình đó thật sự hay đối với một nước nào đó. Chúng ta phải giải quyết vấn đề của mình

với những cách tiếp cận và quan điểm đúng đắn.

Xưa nay, nói đến sự nhìn nhận và đánh giá truyền thống, người ta thường xuất

phát từ nhiều cơ sở khác nhau. Phải xác định đúng chỗ đứng trong hiện tại, tức là phải

xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng một xã hội công nghiệp, hiện đại để nhìn nhận

truyền thống và lựa chọn truyền thống. Có như vậy, chúng ta mới có thể biến truyền

thống thành một động lực của xã hội hiện đại. Hơn nữa, quá trình kế thừa và phát huy

truyền thống nói chung cần phải được tiến hành theo những phương pháp tiếp thu một

cách khoa học thì mới đem lại hiệu quả thiết thực. Vậy những phương pháp đó là gì?

Một là, phải xuất phát từ một xã hội hiện đại thì mới thấy rõ được bộ mặt truyền

thống, từ kết cấu sự vận động đến khả năng mà nó có thể đạt được trong các điều kiện

lịch sử xác định. Chẳng hạn, nếu xem xã hội Việt Nam hiện đại là sự phát triển lên từ xã

hội truyền thống thì hiểu được xã hội Việt Nam ngày nay là điều kiện để thấy rõ truyền

thống của mình.

Hai là, phải kế thừa có phê phán văn hoá truyền thống, không bê nguyên si văn

hoá truyền thống mà cần có sự gạt bỏ, lọc bỏ, vượt qua những hạn chế lịch sử của văn

hoá truyền thống, nghĩa là chỉ tiếp thu những tinh hoa, những hạt nhân hợp lý của nó để

làm phong phú thêm nền văn hoá đương đại và phục vụ tốt nhất cho mục tiêu phát triển.

Ba là, phải nâng cao những gì đã được kế thừa từ truyền thống lên ngang tầm thời

đại mới ở một trình độ mới, bằng cách bổ sung thêm những tư tưởng mới, thổi thêm

sinh khí của thời đại mới cho phù hợp với hoàn cảnh hiện đại và mới tiếp tục phát huy

tác dụng trong điều kiện mới.

Bốn là, quá trình kế thừa văn hoá truyền thống phải gắn liền với sự phát triển

sáng tạo trong đó kế thừa những yếu tố tích cực chính là tạo tiền đề, tạo động lực cho sự

phát triển và sáng tạo. Điều này cho phép tạo ra nền văn hoá mới vừa mang bản sắc dân

tộc, vừa mang tính thời đại, đồng thời còn tạo ra môi trường thuận lợi để hoà nhập vào

nền văn hoá thế giới.






Trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, hầu như nước nào

cũng đứng trước thử thách của phát triển. Chúng ta chủ trương tìm kiếm con đường phát

triển riêng phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa truyền thống của riêng mình. Công

nghiệp hóa, hiện đại hóa là hiện tượng mới ở nước ta. Để nhiệm vụ đó được tiến triển

nhanh chóng, chúng ta cần phải ra sức kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc đã được

hình thành và hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta diễn

ra trong thời đại mở cửa và hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế, trong đó có đời

sống văn hóa. Mở cửa và hội nhập về văn hóa là quá trình giao lưu, học hỏi, là quá trình

“cho” và “nhận” các giá trị văn hóa, tinh thần giữa các dân tộc. Chỉ có đứng vững trên

những quan điểm phương pháp luận khoa học, chúng ta mới kế thừa và phát huy mạnh

mẽ những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp của dân tộc, góp phần quan trọng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.




Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Bài 16 : CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918 - 1939)


Vào cuối thế kỉ XIX Đông Nam Á (trừ Xiêm) đều trở thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây.
dna_500_01
Lược đồ Đông Nam Á
I. Tình hình các nước Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
1. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội.
-Vào cuối thế kỉ XIX Đông Nam Á (trừ Xiêm) đều trở thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây.
-Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân phương Tây đã làm cho nền kinh tế, chính trị - xã hội có những biến đổi quan trọng
a. Về kinh tế  :  bị  lôi cuốn vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa:
+ Thị trường tiêu thụ.
+ Cung cấp nguyên liệu thô.
b. Về chính trị: thực dân khống chế và thâu tóm mọi quyền lực.
c. Về xã hội:
- Sự phân hóa giai cấp diễn ra sâu sắc.
- Giai cấp tư sản dân tộc lớn mạnh, giai cấp vô sản tăng nhanh về số lượng và ý thức cách mạng.
d. Những tác động và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười và cao trào cách mạng thế giới  đã làm cho phong trào cách mạng ở Đông Nam Á vàcác nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ hơn và mang màu sắc mới.
2. Khái quát chung về phong trào độc lập ở Đông Nam Á
So với những năm đầu thế kỉ XX, phong trào đã có những bước tiến mới:
+ Một là: Bước phát triển của phong trào dân tộc tư sản và sự lớn mạnh của giai cấp tư sản dân tộc.
            - Giai cấp tư sản đề ra mục tiêu đấu tranh rõ ràng,bên cạnh mục tiêu kinh tế, mục tiêu độc lập tự chủ như đòi quyền tự chủ về chính trị, đòi dùng tiếng mẹ đẻ trong nhà trường.
           - Đảng Tư sản được thành lập và ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội. (Đảng Dân tộc ở Inđônêxia, phong trào Tha Kin ở Miến Điện, Đại hội toàn Mã Lai ...)
+ Hai là: Sự xuất hiện xu hướng vô sản :
         -Công nhân tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin nên chuyển biến mạnh về nhận thức. Vì vậy, Đảng Cộng sản đã được thành lập ở nhiều nước (tháng 5/1920: Đảng Cộng sản Inđônêxia (5- 1920); năm 1930: Đảng Cộng sản Đông Dương, Mã Lai, Xiêm, Philippin...)
        - Đảng lãnh đạo cách mạng ,đưa phong trào trở nên sôi nổi, quyết liệt    như khởi nghĩa vũ trang ở Inđônêxia (1926-1927); phong trào 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh ở Việt Nam.)
II. Phong Trào độc lập dân tộc ở Inđônêxia.
1.Phong trào độc lập dân tộc  trong thập niên 20 của thế kỉ XX.
Giai đoạn 1:
-Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với sự phát triển của phong trào độc lập dân tộc, giai cấp công nhân ,chủ nghĩa Mác-Lê-nin được truyền bá rộng rãi ở Inđônêxia. Điều kiện đó đã đưa đến sự thành lập Đảng Cộng sản Inđônêxia (tháng 5/1920).
Vai trò Đảng Cộng sản Inđônêxia (tháng 5/1920):
+ Lãnh đạo cách mạng, tập hợp quần chúng.
+ Đưa cách mạng phát triển, lan rộng ra khắp cả nước.
+ Tiêu biểu: Khởi nghĩa vũ trang Giava và Xumatơra (1926 - 1927)
- Mặc dù thất bại song làm rung chuyển nền thống trị của thực dân Hà Lan.
* Giai đoạn 2:
- Năm 1927: Quyền lãnh đạo phong trào cách mạng chuyển sang Đảng dân tộc Inđônêxia (của giai cấp tư sản)đứng đầu là Acmét Xucácnô.
-Chủ trương, đường lối đấu tranh:
   + Đoàn kết với các lực lượng dân tộc, chống đế quốc
   + Đấu tranh  bằng  phương pháp hòa bình, không bạo lực, bất hợp tác với chính quyền thực dân.
   +Đường lối này giống với đường lối của Đảng Quốc đại:
   + Đòi độc lập.
2.Phong trào độc lập dân tộc  trong thập niên 30 của thế kỷ XX .
* Đầu thập niên 30:
-Phong trào lên cao và lan rộng khắp
-Hình thức đấu tranh phong phú, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của các thủy binh ở cảng Surabaya.
-Phong trào bị đàn áp đã dã man, Đảng Dân tộc bị khủng bố và bị đặt ra ngoài pháp luật.                                                            
* Cuối thập niên 30: cách mạng lại bùng lên với nét mới;
+ Chống chủ nghĩa phát xít.
+ Thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít với tên gọi Liên minh chính trị Inđônêxia, đứng đầu là A.Xucácnô
+ Khẳng định ngôn ngữ, quốc kỳ, quốc ca.
+ Chủ trương hợp tác với thực dân Hà Lan.

Name: Soekarno.jpg Views: 99 Size: 17.9 KB
A.Xucácnô

III. Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Lào và Campuchia
* Nguyên nhân :
-Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa.
-Chính sách khai thác tàn bạo, chế độ thuế khóa, lao dịch nặng nề .
-Đã bùng nổ phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Đông Dương.
*Nét chính của phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Đông Dương:

Tên cuộc khởi nghĩa
Thời gian
Nhận xét chung
Lào
Ong Kẹo và Comanđam
Kéo dài 30 năm
phát triển mạnh mẽ.
Chậu
Pachay
1918 - 1922
Mang tính tự phát, lẻ tẻ.
Campuchia
Phong trào chống thuế. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Rôlêphan.
1925 - 1926
- Có sự liên minh chiến đấu của cả 3 nước.
- Sự ra đời của ĐCS Đông Dương đã tạo nên sự phát triển mới của cách mạng Đông Dương

Nhận xét
+Ở Lào: phong trào đấu tranh phát triển mạnh những mang tính tự phát, chủ yếu ở địa bàn Bắc Lào phong trào cách mạng liên hệ chặt chẽ với Việt Nam.
+ Ở Campuchia: phong trào bùng lên mạnh mẽ vào 1825 - 1926, phát triển thành đấu tranh vũ trang. Cũng mang tính tự phát, phân tán.
+ Ở Việt Nam: phong trào phát triển mạnh mẽ :
-Năm 1930 Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời mở ra thời kỳ mới của cách mạng  3 nước Đông Dương.
-Tập hợp - đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng trong xã hội.
-Xây dựng cơ sở của Đảng Cộng sản ở nhiều nơi.
-Đưa phong trào cách mạng phát triển theo xu hướng vô sản.
Trong  những năm 1936-1939 Mặt trận Dân chủ Đông Dương  tập hợp nhân dân chống phát xít và chiến tranh .Một  số cơ sở của Đảng cộng sản Đông Dương  được xây dựng và củng cố  ở Viêng chăng , Phnom Pênh … kích thích  đấu tranh ở Lào và Cam pu chia
IV. Cuộc đấu tranh chống thực dân Anh ở Mã Lai và Miến Điện
1. Mã Lai
+ Nguyên nhân: chính sách bóc lột nặng nề của thực dân Anh.
+ Nét chính: Đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản  thông qua tổ chức Đại hội toàn Mã Lai lãnh đạo .
+ Hình thức đấu tranh phong phú :
       - Đòi dùng tiếng Mã Lai trong trường học.
       -Đòi tự do kinh doanh, cải thiện việc làm.
       -Giai cấp công nhân cùng tham gia tích cực. Tháng 4/1930: Đảng Cộng sản được thành lập đã thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển nhưng chưa đủ điều kiện để lãnh đạo phát triển cách mạng.
2. Miến Điện:
* Đầu XX:
-Phong trào đấu tranh phát triển dưới nhiều hình thức (bất hợp tác, tẩy chay hàng hóa Anh, không đóng thuế ...).
- Phong trào đã lôi cuốn đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia. Tiêu biểu là nhà sư Ốttama đã khởi xướng và lãnh đạo.
* Trong thập niên 30:
-Phong trào phát triển lên bước cao hơn.
-Tiêu biểu là phong trào Tha Kin đã lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia đòi quyền làm chủ đất nước (đòi cải cách quy chế đại học, thành lập trường đại học riêng cho Miến Điện, đòi tách Miến Điện ra khỏi Ấn Độ và được quyền tự trị).
+ Kết quả: năm 1937 Miến Điện được tách ra khỏi Ấn Độ và hưởng quyền tự trị trong khối liên hiệp Anh.
* Đặc điểm chung:
-Phong trào đấu tranh phát triển mạnh.
-Đều do giai cấp tư sản lãnh đạo.
-Đều đấu tranh bằng phương pháp hòa bình.
 pri_di_pha_no_mi_ong_400
Priđi Phanômiông – Thủ lĩnh Đảng nhân dân Thái  Lan
V. Cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm (Thái Lan).
+ Xiêm là một nước duy nhất ở Đông Nam Á còn giữ được nền độc lập dù chỉ là hình thức.
+ Nguyên nhân: do sự bất mãn của các tầng lớp nhân dân với nền quân chủ chuyên chế.
+ Năm 1932: bùng nổ ở Băng Cốc dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản mà thủ lĩnh là Priđi Phanômiông.
+ Mục tiêu đấu tranh: đòi thực hiện cải cách kinh tế xã hội theo hướng tư sản nhưng vẫn duy trì ngôi vua.
+ Kết quả :lật đổ nền quân chủ chuyên chế  Ra-ma VII, lập nên nền quân chủ lập hiến . Mở đường cho Xiêm phát triển theo hướng tư bản.
+Tính chất: cuộc cách mạng tư sản không triệt để.

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918 – 1939)

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918 – 1939)

Những biến đổi của Đông Nam Á sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai

Những biến đổi của Đông Nam Á sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
- Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là nước thuộc địa của đế quốc Âu - Mĩ. Khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á và thiết lập trật tự phát xít. Từ cuộc chiến tranh chống thực dân Âu - Mĩ, nhân dân Đông Nam á chuyển sang đấu tranh chống quân phiệt Nhật, giải phóng đất nước. Ngày sau khi Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh, một số quốc gia đã tuyên bố độc lập:

+ Ngày 17 - 8 - 1945, nhân dân In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a.

+ Ngày 19 - 8 - 1945, Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ( 2 - 9 - 1945 ).

+ Tháng 8 - 1945, nhân dân các nước bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12 - 10 - 1945, nước Lào tuyên bố độc lập.

- Nhân dân các nước Miến Điện ( nay là Mi-an-ma ), Mã Lai ( nay là Ma-lai-xia-a ) và Phi-líp-pin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật giải phóng nhiều vùng rộng lớn của đất nước.

Nhưng ngay sau đó, các nước thực dân Âu - Mĩ ( Pháp, Hà Lan, Anh,... ) quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược. Trải qua cuộc kháng chiến kiên cường và gian khổ, vào giữa những năm 50, nhân dân In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đã lần lượt đánh đuổi bọn thực dân ra khỏi đất nước. Cũng vào thời gian đó, các nước đế quốc Âu - Mĩ công nhận độc lập của Phi-líp-pin, Miến Điện, Mã Lai, Xin-ga-po:

+ Tháng 10 - 1944, Mĩ trở lại Phi-líp-pin tuyên bố trao trả độc lập cho nước này ( 4 - 7 - 1946 ). Tuy vậy, Mĩ vẫn xây dựng nhiều căn cứ quân sự ở Phi-líp-pin. Đến năm 1992, Mĩ mới rút khỏi các căn cứ quân sự cuối cùng ở nước này là Clác và Su-bíc.

+ Phong trào chống thực dân Anh diễn ra mạnh mẽ ở Miến Điện. Tháng 10 - 1947, Anh buộc phải kí Hiệp ước Anh - Miến công nhận Miến Điện là nước độc lập và tự chủ. Tháng 1 - 1948, Liên bang Miến Điện tuyên bố độc lập. Từ tháng 6 - 1989 đổi lại là Liên bang Mi-an-ma.

+ Tháng 9 - 1945, thực dân Anh tái chiếm Mã Lai. Trước sức ép của phong trào đấu tranh quần chúng, chính phủ Anh phải đồng ý để cho Mã Lai độc lập. Ngày 31 - 8 - 1957, Mã Lai tuyên bố độc lập. Năm 1963, Liên bang Ma-lai-xi-a ra đời bao gồm miền Đông ( Xa-ba, Xa-ra-oắc ) và miền Tây ( Mã Lai, Xin-ga-po ).

+ Xin-ga-po được Anh trao trả quyền tự trị ( 1959 ), sau đó tham gia Liên bang Ma-lai-xi-a, nhưng đến năm 1965 lại tách ra thành nước cộng hòa độc lập.

- Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi ( 1954 ):

+ Nhân dân Việt Nam và Lào, tiếp đó là Cam-pu-chia phải trải qua một cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

+ Bru-nây, tới tháng 1 - 1984 tuyên bố là quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Anh.

+ Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 8 - 1999 tác khỏi In-đô-nê-xi-a, ngày 20 - 5 - 2002, Đông Ti-mo trở thành một quốc gia độc lập.

- Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, tháng 9 - 1954, Mĩ cùng Anh, Pháp và một số nước đã thành lập khối quân sự mang tên Tổ chức hiệp ước Đông Nam á (viết tắt theo tiếng Anh là SEATO). Nhưng sau thắng lợi của cách mạng ba nước Đông Dương vào giữa năm 1975, khối SEATO phải giải thể 6 - 1976).